BCH Khóa mới
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐTN CS HỒ CHÍ MINH – TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 2 – KHÓA 45 – NHIỆM KỲ 2017 – 2018
03/10/2017
Lịch sử nhà trường
Lịch sử nhà trường THPT Yên Định 2
07/11/2017
Hiện tất cả

 

 I. TRƯỜNG CẤP 3 YÊN ĐỊNH 2 ĐƯỢC THÀNH LẬP: NĂM HỌC ĐẦU TIÊN 1972-1973 “ NHỮNG LỚP HỌC TRONG TIẾNG BOM.

  1. Bối cảnh lịch sử:

    Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào đầu những năm 1970 là thời kỳ ác liệt nhất. Đất Thanh Hoá nơi đâu cũng trở thành trọng điểm đánh phá. Vậy mà với truyền thống hiếu học của một dân tộc Đất nước hoá thành văn‘’ Sự nghiệp GD-ĐT của Yên Định vẫn không ngừng phát triển. Trong tình hình đó, trường cấp 3 Yên Định không còn đáp ứng đủ nhu cầu của hàng nghìn học sinh trong huyện có ước mơ đội mũ rơm đến trường”. Việc phải mở rộng quy mô đào tạo là tất yếu.

Tháng 7 năm 1972 theo quyết định của Chủ tịch UBHC tỉnh Thanh Hoá (Số 565 TC/UBTH, ngày 25 tháng 7 năm 1972), trường cấp 3 Yên Định 2 được thành lập phục vụ GD-ĐT cho con em các xã vùng Yên của huyện.

Tháng 8 trời còn nóng, mưa dầm, cả trường đang nghỉ hè. Thực hiện Quyết định đó, UBHC huyện Yên Định và Ban lãnh đạo trường cấp 3 Yên Định 2 đã nhanh chóng triển khai kế hoạch và hoàn tất các thủ tục cần thiết tổ chức cho Thầy và Trò di chuyển một phần cơ sở vật chất, trang thiết bị ít ỏi từ Quán Lào lên địa điểm trường mới là làng Yên Lý và Hà Đông thuộc 2 xã Yên Bái và Yên Trung. Dưới sự điều hành của thầy Lê Văn Thắng (Hiệu phó nhà trường), Thầy Trò đã vượt hàng chục km vận chuyển bằng phương tiện thô sơ, tổ chức lao động hàng tháng trời ròng rã, đào hào đắp luỹ, huy động sự đóng góp của phụ huynh HS nhanh chóng dựng lên những lán học dưới hầm sâu tránh bom Mỹ kịp khai giảng năm học mới. Nhờ có sự lao động cật lực của Thầy, Trò và sự ủng hộ, che chở của nhân dân địa phương về mọi mặt – Trường kịp thời khai giảng năm học mới giữa lúc cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lên đến đỉnh cao với quy mô ác liệt nhất, và điếu kỳ lạ là chính thời khắc ấy-tháng 9 năm 1972 Trường cấp 3 Yên Định 2 chính thức tổ chức Lễ khai giảng năm học đầu tiên 1972-1973 trước sự vui mừng, phấn khởi, tin tưởng của Thầy, Trò và nhân dân các xã vùng Yên. Đó là mốc cắm đầu tiên cho lịch sử hình thành và phát triển của nhà trường

  1. Tiếp tục XD cở sở vật chất và hoạt động dạy năm học đầu tiên.

Năm học đầu tiên (1972-1973) được khai giảng, sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương về cơ sở vật chất, đội ngũ, công tác tuyển sinh… Trường chỉ có 28 cán bộ giáo viên phần lớn được chia tách từ trường cấp 3 Yên Định (BGH: 2 người, giáo viên: 23 người, CB hành chính 3 người) và 12 lớp học sinh: 6 lớp từ cấp 3 Yên Định về; khối 10: 2 lớp (10A, 10B); khối 9: 4 lớp (9A, 9B, 9C, 9D) và tuyển mới khối 8:6 lớp (8A đến 8E), trong đó có 3 lớp khối 8 là học sinh K8 ( học sinh Quảng Trị); tổng số là 600 học sinh.

          * Ban GH gồm:

            + Thầy Nguyễn Văn Uẩn: Hiệu trưởng từ  Hoàng Hoá chuyển về.

            + Thầy Phạm Ngọc Căng : P. Hiệu trưởng từ Quảng Bình chuyển ra.

            * Chi bộ Đảng đầu tiên có 8 đảng viên;

                  Bí thư chi bộ: Thầy Đỗ Tạo: GV Sinh

            * Chủ tịch Công đoàn: Thầy Lê Đức Việt: GV Toán

            * Thư ký Hội Đồng: Thầy Đỗ Tạo: GV Sinh      

            * Bí thư đoàn trường : Thầy Hồ Hồng Quảng : GV Toán

            Xin được nêu tên các thầy cô giáo và các bác là cán bộ của trường trong năm học đầu để các thế hệ sau mãi mãi biết ơn sự cống hiến, những người đặt viên gạch đầu tiên cho ngôi trường THPT Yên Định 2 ngày nay.

            – Giáo viên môn Văn: Thầy Trịnh Truy, Thầy Nguyễn Doanh, Chầy Chung Văn Thợi, Thầy Trần Phong Nhã, cô Phạm Thị Hương.

            – Giáo viên môn Toán: Thầy Hồ Hồng Quảng, Thầy Lê Đức Việt, Thầy Lê Trung Khôi, Thầy Nguyễn Văn Cư, Cô Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Cô Lê Thị Thái

            – Giáo viên môn Lý: Thầy Nguyễn Cảnh Trung, Thầy Nguyễn Ngọc Minh, Thầy Trần Huy Viêm.

            – Giáo viên môn Hoá: Cô Nguyễn Thị Khe, cô Phan Thị Tĩnh, cô Trần Thị Tân.

            – Giáo viên Sinh: Thầy Đỗ Tạo, cô Vũ Thị Bưởi.

            – Giáo viên Sử: Thầy Trịnh Đình Thiệu.

            – Giáo viên Địa: Thầy Nguyễn Thế Vũ.

            – Giáo viên GDCD: Thầy Nguyễn Thanh Liêm.

            – Giáo viên Thể dục: Thầy Lê Văn Tính.

            – Cán bộ Hành chính: Bác Hoàng Ngọc Tuynh (văn phòng); Bác Lê Thị Vừng (cấp dưỡng); Bác Lê Thị Ớt (lao công).

            Năm đầu thành lập cực kỳ khó khăn về mọi mặt hầu như từ hai bàn tay trắng, cơ sở vật chất hầu như không có gì. Thầy cô giáo phải ăn ở, làm việc trong nhà dân- họp hội cũng trong nhà dân (lúc bấy giờ văn phòng nhà trường làm việc tại nhà Bà Ân- Yên Bái), chỉ có một nhà lợp tranh vách đất dành cho bộ phận hành chính ở và làm việc; thư viện, phòng thí nghiệm, sách giáo khoa cho học sinh hầu như không có gì. Cả trường có 7 lán học làm bằng tre, lợp tranh được đặt trong vườn cây của nhà dân 2 làng Yên Lý (Yên Bái ) và Hà Đông (Yên Trung), xung quanh đào hào đắp luỹ để tránh bom Mỹ; bàn ghế làm bằng luồng. Các lán học đặt cách xa nhau- xa nhất tới 300- 400 mét. Dạy và học trong điều kiện đó cộng với sự đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ. Khó khăn tưởng chừng không vượt nổi, Ban lãnh đạo và các thầy cô đã bám trường bám lớp vượt lên khó khăn gian khổ, nhiệt tình giảng dạy với tấm lòng tất cả vì học sinh thân yêu, đã thắp sáng và đốt lửa cho học sinh hăng say học tập. Xin trích một số cảm tưởng của học sinh lớp 10B- khoá học năm đầu tiên- phát biểu trong dịp họp lớp (11/2002)- sau 30 năm ra trường:

            “Trường chỉ có 12 lớp, 28 thầy cô giáo và cán bộ mà học sinh lớp nọ không biết lớp kia, không biết hết được các thầy cô trong trường, chỉ biết những thầy cô dạy lớp mình vì lúc ấy các lớp học được đặt “kín”trong vườn nhà dân cách xa nhau và rất ít có dịp tập trung học sinh toàn trường vì sợ bom Mỹ”. “Cái quý nhất lúc bấy giờ là trong khó khăn tưởng chừng không vượt qua, mà các thầy cô rất nhiệt tình giảng dạy, sáng tạo tìm tòi phương pháp giảng dạy hợp lý và chúng tôi học tập rất nghiêm túc với ý thức tự giác cao. Hình ảnh các thầy cô còn in đậm trong tâm khảm mỗi chúng tôi, lòng nhiệt tình say sưa với nghề nghiệp, đức hy sinh cao cả của thầy cô đã thắp sáng và đốt lửa cho chúng tôi, thúc dục chúng tôi vượt khó vươn lên trong học tập lúc bấy giờ và cả trong suốt quãng đường đời từ khi xa mái trường thân yêu PT cấp 3 Yên Định 2 đến nay… ”.                                           

Và trong bản tổng kết cuối năm học 1972- 1973 của Thầy Nguyễn Thế Vũ (giáo viên Địa) có đoạn viết: “Năm học 72-73 tôi về trường cấp 3 Yên Định 2, một mình dạy 12 lớp (cả trường), Bản thân tôi không có sách giáo viên, không có sách giáo khoa, không có bản đồ, nhà trường cũng không có tiền mua giấy bản đồ, phải lo để soạn giảng… ”, càng thấy rõ sự thiếu thốn và khó khăn.

  1. Kết quả đạt được trong năm học 1972-1973:

            Vượt lên những khó khăn và bằng nghị lực của chính mình. Năm học đầu tiên mùa gặt hái thu đầy thắng lợi: Tỷ lệ học sinh lớp 10 đậu tốt nghiệp: 80%. Chỉ có 2 lớp 10 (10A, 10B) có 15 học sinh thi đậu ĐH, 10 học sinh đậu CĐ và THCN.

            Đúng là càng gian khổ càng thành đạt; trong số học sinh khoá đầu tốt nghiệp trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, phần lớn các học sinh phải tạm biệt mái trường, tạm biệt quê hương lên đường đánh Mỹ, tuổi xuân để lại chiến trường rồi bước tiếp sự nghiệp trong nhiều lĩnh vực, thắp sáng ngọn lửa mà thầy cô đã đốt cho mình. Đến nay trong số những học sinh khoá đầu của trường có rất nhiều người đã thật sự trưởng thành và thành đạt trong các lĩnh vực xã hội bằng chính sự vươn lên của mình. Theo kết quả điều tra của học sinh khoá 1 báo cáo cho trường trong dịp họp khoá gần đây (15/11/2011), trong số 90 học sinh khoá đầu ra trường đến nay: 

            – Số học sinh có bằng ĐH trở lên là 50 người (trong đó 3 tiến sĩ, 15 thạc sĩ khoa học)

            – Giữ cương vị P. chủ tịch UBND tỉnh, huyện, Giám đốc trong các cơ quan nhà nước và các công ty là 25 người;

            – Đang công tác trong ngành GD với cương vị HT, PHT là 5 người, giảng viên các trường ĐH, CĐ là 6 người,

            – Cán bộ cao cấp trong quân đội là 10 người (Cấp tướng: 01; Cấp đại tá: 03).

II.HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRƯỜNG TRONG NHỮNG NĂM ĐÌNH CHIẾN VÀ NHỮNG NĂM ĐẦU

KHI ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT.

(Từ năm học 1973-1974 đến 1980-1981

 8 năm đóng tại xã Yên Trung)

            Năm học đầu tiên trường mới thành lập là thời kỳ chiến tranh đánh phá ác liệt nhất của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Toàn bộ hoạt động của nhà trường trong thời kỳ sơ tán, bằng sự cố gắng nỗ lực của thầy và trò và sự che chở của nhân dân nơi trường đóng, chúng ta đã kết thúc năm học đầy thắng lợi, đánh dấu một mốc son trong lịch sử của nhà trường làm tiền đề để sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nhà trường bước vững chắc trong những năm kế tiếp.

            Một sự kiện quan trọng đánh dấu sự thắng lợi của đất nước trên mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao và cũng là mốc lịch sử của nhà trường, là thời kỳ kết thúc chiến tranh phá hoại miền Bắc chuyển sang thời kỳ đình chiến. Hiệp định Pa ri về chiến tranh Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973.

            Điều kiện giảng dạy và học tập của nhà trường không còn phù hợp với quy mô yêu cầu ngày càng tăng của nhân dân vùng Yên, cùng với thời kỳ chiến tranh phá hoại đã kết thúc. Theo QĐ của UBND tỉnh và huyện Yên Định, trường chuyển về địa điểm mới tại xã Yên Trung- tiếp thu cơ sở của trường cấp 2 Yên Trung cũ, cách địa điểm cũ gần 500m. Cơ sở gồm 5 phòng học ngói cũ. Thầy trò lại bắt tay vào khẩn trương làm lán học để kịp thời khai giảng năm học mới 1973-1974. Tám năm từ năm học 1973-1974 đến 1980-1981 trường đóng trên địa điểm mới tiếp tục có những khó khăn- đặc biệt là về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, đời sống của cán bộ giáo viên thiếu thốn cùng với sự khó khăn về kinh tế chung của cả nước đang dốc toàn bộ sức lực cho những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những năm đầu mới hoà bình- đặc biệt là những năm 79-80-81. Nhưng với tinh thần vượt khó của đội ngũ CBGV cùng với sự tăng trưởng về số lượng học sinh từng năm học; dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, BGH và tập thể giáo viên, sự quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền, nhất là địa phương nơi trường đóng. Nhà trường đã chỉ đạo công tác giáo dục đào tạo theo tinh thần NQ4 của Đảng, thực hiện khẩu hiệu “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy thật tốt, học thật tốt”, “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Tập trung giáo dục toàn diện, học đi đôi với hành. Ngoài thời gian dạy và học, nhà trường đã chú ý đến công tác lao động sản xuất, xây dựng cơ sở v/c, giúp địa phương trong mùa vụ như chống hạn, chống lụt bão, làm giao thông, gặt lúa giúp dân. Đoàn thanh niên đã huy động nhiều ngày công lao động cộng sản giúp địa phương, gây quỹ, CĐ tổ chức nấu vôi, nấu gạch, làm lúa… tăng thu nhập cải thiện đời sống cho giáo viên, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng dạy và học.

            Về quy mô đào tạo: Số học sinh đến trường ngày một tăng từ chỗ năm 72-73 có 12 lớp và tăng dần 15-16-17- đến 18 lớp (từ 578 h/s đến gần 900 h/s).

            Đội ngũ giáo viên dần được tăng cường từ 28 CBGV tăng dần tới 50 CBGV. Do điều kiện đất nước có nhiều khó khăn nhất là về kinh tế, đội ngũ giáo viên có nhiều biến động- sự hợp lý hoá gia đình, địa phương hoá đội ngũ, phần lớn số giáo viên những năm đầu đã thuyên chuyển về quê thay vào đó là những giáo viên trẻ- số lượng hàng năm tăng dần. Đội ngũ cán bộ quản lý cũng được bổ sung và có thay đổi chút ít. Thầy Nguyễn Văn Uẩn luôn giữ chức vụ HT trong thời gian này, P. HT là thầy Phạm Ngọc Căng từ 1975 chuyển lên trường C3 NT Thống Nhất làm HT-Thầy Nguyễn Hữu Chi được đề bạt làm P. HT- tiếp đến năm 1980 thầy Trương Văn Nghiêm được đề bạt làm P. HT.

            Về chất lượng dạy và học: Mặc dù trong điều kiện khó khăn, thầy trò đều hăng hái thi đua dạy tốt, học tốt, thực hiện tốt giáo dục toàn diện. Chất lượng giáo dục ngày một được nâng cao rõ rệt. Về văn hoá, chúng ta đã đạt được rất nhiều giải: giải nhì văn cá nhân (75-76), giải nhất môn Toán khối A, nhì Toán khối B, nhất môn Vật Lý, nhì môn Hoá và đồng đội giải Nhất 3 môn Toán, Lý, Hoá (năm học 79-80) và có nhiều học sinh thi đỗ ĐH, CĐ. Nhiều tổ chuyên môn của trường đạt tổ tiên tiến, được Sở khen (tổ Lý, Hoá, Ngoại ngữ); Công đoàn, Đoàn thanh niên được công nhận là đơn vị xuất sắc; Hoạt động VHVN cũng được chú ý, có nhiều tiết mục đoạt giải trong các lần tham gia hội diễn toàn ngành…

            * Một vinh dự và đáng tự hào cho trường ta, cho quê hương Yên Định – nơi sinh ra, nơi nuôi dưỡng và đào tạo biết bao thế hệ học sinh trưởng thành trên mọi lĩnh vực của xã hội trong những năm đất nước có chiến tranh, biết bao học sinh phải tạm biệt bạn bè, tạm biệt mái trường thân yêu lên trường đánh Mỹ bảo vệ tổ quốc, chính các em đã lập nên những chiến công hiển hách làm rạng rỡ cho mái trường và quê hương-tiêu biểu cho các thế hệ học sinh của trường là học sinh LưuThế Hà (con một gia đình trí thức ở Yên Bái) – bí thư chi đoàn lớp 9E (1975-1976), đã tình nguyện lên đường nhập ngũ năm 1976, khi em vừa tròn 17 tuổi xuân. Biên giới Tây Nam vẫn chưa im tiếng súng, máu của đồng bào, đồng chí còn đổ xuống; tiểu đoàn cảnh sát cơ động của Hà được điều động từ thủ đô Hà Nội tăng cường truy quét bọn Fun rô ở Tây Nguyên vào một ngày hè 1977. Trận đánh cuối cùng sắp diễn ra khi anh đang lên cơn sốt rét- nhưng anh vẫn xung phong cùng đồng đội hành quân chiến đấu. Trận đánh diễn ra ác liệt, Hà bị thương 2 lần, nhưng Hà vẫn cố trườn lên ngắm chính xác, tiêu diệt bằng được tên thiếu tá cầm đầu bọn Fun rô. Hà nằm xuống trên đất cao nguyên khi vừa tròn 21 tuổi một cách thanh thản trước sự tiếc thương của đồng đội, của gia đình, của quê hương, của các thế hệ học sinh và các thầy cô giáo trường THPT Yên Định 2. Với những thành tích và sự hy sinh dũng cảm, Hà đã được nhà nước phong tặng “ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Gương sáng của anh hùng liệt sĩ Lưu Thế Hà đã để lại cho các thế hệ học sinh trường THPT Yên Định 2 những bài học truyền thống quí báu:          

                        Sống: Lạc quan, yêu đời, thương yêu đùm bọc đồng đội, là con ngoan hiếu nghĩa với gia đình.

                        Chiến đấu: Gan dạ, mưu trí, dũng cảm

                        Hy sinh: Thanh thản.

mãi mãi đi vào truyền thống lịch sử của nhà trường. Để tưởng nhớ và biết ơn vô hạn anh hùng liệt sĩ Lưu Thế Hà- tuổi trẻ trường THPT Yên Định 2, được sự đồng ý của Huyện ủy, UBND huyện Yên Định, đã tổ chức lễ truy điệu anh hùng liệt sĩ Lưu Thế tại trường Yên Định 2 một cách long trọng vào ngày 22/12/1981. Tuổi trẻ THPT Yên Định 2 khắc ghi tên anh, noi gương anh, anh là đoàn viên thanh niên cộng sản danh dự được ghi tên trong tất cả các chi đoàn.

III. HOẠT ĐỘNG NHÀ TRƯỜNG TRONG THỜI KỲ HÒA BÌNH VÀ NHỮNG NĂM ĐẦU

CỦA THỜI KỲ ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC.

(Từ năm học 1981-1982 đến 1993-1994

13 năm đóng tại xã Yên Phong)

  1. Những năm đầu xây dựng trường tại địa điểm mới.

            Sau những năm đất nước thống nhất, non sông quy về một mối, đất nước trong thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH. Sự nghiệp giáo dục được Đảng nhà nước có những quyết sách mới, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực, nhân tài đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Neo đậu tại xã Yên Trung không còn phù hợp yêu cầu phát triển GD &ĐT của nhà trường, tình trạng học tập trong hào lũy, lán tranh, ghế tre… cần phải kết thúc; sự cần thiết phải mở rộng qui mô đào tạo và từng bước làm cho mái trường khang trang theo mong muốn của nhân dân. Một lần nữa trường cấp 3 Yên Định 2 lại di chuyển địa điểm. Hè 1981 được sự quan tâm của UBND huyên Thiệu Yên, của Ty GD Thanh Hóa QĐ trường chuyển về địa bàn xã Yên Phong thuộc ngoại vi phố Kiểu- đó là một sự thuận lợi lớn cho nhà trường. Cuộc di chuyển lần thứ 3 lại được diễn ra trong cái nắng cuối hè – chuẩn bị mọi mặt để kịp khai giảng năm học 1981-1982. Tiềm năng và sức mạnh nội lực của toàn dân trong huyện Thiệu Yên được huy động- thực hiện chính sách” Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “xã hội hóa GD”. UBND huyện đã huy động các xã đóng góp kinh phí để xây dựng phòng học cho trường. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí chủ tịch UBND huyện Ngô Văn Sảo (trưởng ban) và một đ/c trong Ban giám hiệu nhà trường ( thầy Trương Văn Nghiêm-PHT làm phó ban). Chỉ trong một thời gian ngắn (3 tháng) đã xây dựng xong 5 dãy phòng học (gồm 25 phòng), một khu hiệu bộ nhà cấp 4 và 3 dãy nhà bán kiên cố dành cho giáo viên xa ở lại dưới sự thiết kế và thi công của thầy và trò cũng được hoàn thành và đi vào sử dụng trước khai giảng. Đây là một cách làm mới, sự vận dụng sáng tạo và thành công trong công tác XH hóa giáo dục, sự huy động sức mạnh “ Nhà nước và nhân dân cùng làm” của lãnh đạo huyện Thiệu Yên. Sự kiện này đã được UBND tỉnh, Sở GD & ĐT Thanh Hóa đánh giá cao, lấy đó là một điển hình cho các huyện khác học tập. Vì thế 10/1981 UBND tỉnh đă tổ chức hội nghị học tập và rút kinh nghiệm về cách làm mới này, thành phần gồm: Chủ tịch UBND huyện và HT các trường PTTH toàn tỉnh tại huyện Thiệu Yên.

             Năm học1981-1982 được khai giảng đúng ngày qui định chung của toàn quốc (5/9/1981) sau những ngày thầy và trò lăn lộn không quản nắng mưa làm việc cật lực khẩn trương xây dựng cơ sở v/c phục vụ cho dạy và học. Để dần dần xây dựng cảnh quan của nhà trường, thực hiện khẩu hiệu xanh, sạch, đẹp, ”trường ra trường, lớp ra lớp” và để làm tốt công tác giáo dục toàn diện, tự tạo nên nguồn kinh phí tổ chức tốt các hoạt động giảng dạy, học tập và hoạt động xã hội. Liên tục những năm đầu nhà trường đã tổ chức lao động hướng nghiệp, lao động CS: tự đóng và nấu được hàng triệu viên gạch để xây dựng thêm nhà ở giáo viên, nhà tiêu, hố tiểu, phát động phong trào trồng cây, giao trách nhiệm cho từng lớp bảo quản, chăm sóc, tổ chức hàng ngàn ngày công đào hào và trồng cây xung quanh trường để làm hàng rào bảo vệ cơ sở v/c nhà trường; Đoàn TNCS luôn là lực lượng xung kích đi đầu trong việc tổ chức cho đoàn viên tham gia một cách tích cực trong quá trình làm đẹp khuôn viên và cải tạo môi trường GD. Bằng những ngày lao động CS của các lớp đối tượng Đoàn đã đào được 3 ao thả cá rộng hàng ngàn mét vuông rồi tự đóng góp vật liệu làm nhà để xe cho học sinh học 1 ca gồm 27 lớp; nhà trường và Đoàn TN còn nhận của xã Yên Phong một mẫu ruộng trồng lúa, hợp đồng với công ty Nam Sông Mã hàng năm đào vét hàng chục km kênh mương nhằm phục vụ công tác dạy nghề hướng nghiệp, giúp nhân dân địa phương và tạo nguồn kinh phí để họat động. Nhờ đó chỉ trong vài ba năm chúng ta đã tạo được một khuôn viên nhà trường xanh, sạch, đẹp, đủ điều kiện sân chơi, bãi tập từng bước tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

  1. Hoạt động dạy và học – chất lượng và qui mô đào tạo:

            Dưới ánh sáng của NQ TW V, VI và VII đặc biệt là NQTW2 khóa VI giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu. Cùng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa không ngừng tăng trưởng, chính sách xã hội hóa GD được Đảng và nhà nước coi trọng và đã thấm nhuần tới các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân giáo dục huyện nhà cũng cùng nhịp phát triển đó. Từ những năm 81- 82 đến 88- 89 số lượng học sinh được tuyển vào trường tăng dần từ 21 lớp (81-82) rồi 24, rồi 27 lớp ( từ 83-84 đến 88-89). Lực lượng CB giáo viên của trường ngày càng được bổ sung và trẻ hóa, từ 68 CBGV (năm 80-81) đến 85 CBGV (82-85 ) và con số dao động 85- 80-77-72 (năm 89-90 ). Đời sống và điều kiện làm việc trong những năm đầu của thập kỷ 80 vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn của thời kỳ bao cấp nhất là về lương thực. Ngoài giờ lên lớp các thầy cô giáo còn phải làm thêm rất nhiều việc khác để tăng thu nhập như chăn nuôi, làm ruộng, làm các nghề phụ khác… Trong tình trạng khó khăn đó số học sinh hàng năm được tuyển vào học của các trường ĐH, CĐ, TCCN của cả nước bị hạn chế và số học sinh tốt nhiệp ĐH, CĐ không có việc làm, phải tự tìm kiếm nơi làm việc, nhiều em phải trở về quê làm ruộng. Tình hình đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phấn đấu vươn lên của học sinh nhất là những em khá, giỏi.

          Khó khổ là thế của một thời bao cấp, cả tập thể giáo dục từ lãnh đạo, các tổ chức XH và CBGV toàn trường đã biết tự khắc phục những khó khăn của đời thường không ngại gian khổ, luôn luôn tìm tòi, sáng tạo tìm ra những hướng đi mới. Mọi chủ trương, kế hoạch được bàn bạc dân chủ, chi bộ Đảng luôn là tổ chức tiên phong, tin cậy nhất của nhà trường trong việc hoạch định và chỉ đạo mọi hoạt động của nhà trường; vấn đề chuyên môn, công tác giáo dục toàn diện, lao động hướng nghiệp dạy nghề được LĐ trường quan tâm đúng mức. Do đó tất cả cán bộ giáo viên đã dốc lòng vì sự nghiệp, các phong trào thi đua được dấy lên mạnh mẽ, chất lượng dạy và học không ngừng nâng cao- tỷ lệ học sinh tuyển vào, tỷ lệ học sinh lớp 12 tốt nghiệp, học sinh giỏi cấp tỉnh, thi đỗ vào ĐH, CĐ tăng nhanh qua từng năm học. Về các hoạt động nề nếp và hoạt động xã hội ngoài giờ trong 13 năm đóng ở Yên Phong, được nhà trường đặc biệt quan tâm và đã đạt được rất nhiều thành công rực rỡ, làm nền cho giáo dục và đào tạo. Công lao đó ngoài sự cố gắng chung của nhà trường phải kể đến và ghi nhận sự đóng góp quan trọng của tổ chức đoàn TNCS Hồ Chí Minh – đứng đầu là tập thể thường vụ Đoàn trường- một tập thể đầy trách nhiệm, nhiệt tình, sáng tạo và năng động. Tổ chức Đoàn TN đã nhận trước chi bộ và LĐ nhà trường đảm đương công tác quản lý nề nếp và các hoạt động XH. Những buổi hội thảo báo cáo kinh nghiệm học tập, giảng dạy, hái hoa dân chủ, thi học sinh thanh lịch, hội diễn văn nghệ, thi cắm trại, thi thể dục thể thao vv… được tổ chức thường xuyên ở cấp chi đoàn, cấp đoàn trường hàng năm vào các dịp chào mừng các ngày lễ lớn 20/11, 22/12, 3/2, 26/3, 19/5 một cách sôi động, có chất lượng và mang tính giáo dục cao- thực sự là ngày hội của tuổi trẻ và đã trở thành những kỷ niệm đi vào ký ức của học sinh thời bấy giờ; mà trong những năm gần đây khi các lớp học sinh cũ trở về họp lớp, thăm trường đều thấy tự hào và nhắc lại.

          Một dấu ấn đáng nhớ: Từ năm 1989-1990 đến 1993-1994 – những năm cuối trường đóng trên địa bàn xã Yên Phong, tình hình nền kinh tế đất nứoc trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH lại gặp rất nhiều khó khăn trong bước đi đã thực sự tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp giáo dục. Giáo dục lại lâm vào thời kì bị xuống cấp nghiêm trọng, cùng với CCGD năm 90-91, học sinh vào lớp 10 giảm dần, số lớp của trường tụt hẳn. Từ chỗ 27 lớp xuống còn 25 lớp (89-90), 18 lớp (90-91), 14 lớp (91-92) và chỉ còn 10 lớp (92-93). Cùng với giảm lớp, biên chế CBGV của trường cũng giảm theo từ 85-80-76… đến 92-93 chỉ còn 29 cán bộ giáo viên. Công tác tổ chức và hoạt động của nhà trường bị sáo trộn, mất ổn định, nhiều thầy cô do yêu cầu tổ chức phải chuyển về dạy ở các trường THCS hoặc chuyển đi nơi khác, điều đó đã tác động dữ dội đến tâm lý CBGV trong công tác giảng dạy và phấn đấu, học sinh thì suy giảm về động cơ học tập. Khó khăn lại tăng lên cho LĐ trường. Làm sao để trấn an lại tư tưởng cho thầy và trò để nhanh chóng ổn định để mọi hoạt động trở lại bình thường và từng bước phát triển sự nghiệp giáo dục của nhà trường, đã trở thành một câu hỏi khó có lời giải đáp. Nhiều cuộc họp của chi bộ được tổ chức để bàn luận tìm giải pháp đúng, tìm cách vượt lên khó khăn đưa sự nghiệp giáo dục của nhà trường đi lên. Chi bộ luôn xác định trường THPT Yên Định 2 phải là “trung tâm giáo dục- đào tạo, là trung tâm văn hóa” của các xã vùng Yên. Quyết tâm đó là sinh khí mới, luồng gió mới thổi vào các hoạt động, đến với từng CBGV của nhà trường. Khó khăn rồi lại qua đi- năm cuối của thời lỳ này (93-94) số lớp của trường lại được tăng lên từ 10 lên 14 lớp, số CBGV cũng tăng từ 29 lên 34 người, và cũng là năm trường tập trung nâng cao chất lượng dạy học để lấy lại tín nhiệm và niềm tin của nhân dân địa phương và cho cả chính mình. Cùng với chủ trương thi ĐH với nội dung kiến thức qui định trong “Bộ đề thi đại học”. Với sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ giáo viên luyện thi ĐH của 4 khối A, B, C, D, số học sinh của trường thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ, TCCN tăng lên rõ rệt so với những năm trước đây (chỉ có 6-7 em, cao nhất là 9 em), năm học 93-94 có tới 30 em đỗ vào ĐH, CĐ trong đó có em đỗ cả 2-3 trường với số điểm cao.

  1. Những thành tích đạt được trong 13 năm.

            Đóng trên địa bàn xã Yên Phong trong 13 năm từ 1981-1994 trường đã trải qua bao nỗi thăng trầm- lần thứ 3 chuyển địa điểm- kinh tế xã hội, cơ chế chính sách có nhiều thay đổi đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục đào tạo của trường, về đời sống của CBGV, về qui mô đào tạo từ đỉnh cao 27 lớp với 85 CBGV rồi xuống chỉ còn 10 lớp với 29 CBGV tác động mạnh mẽ đến điều kiện, sự mất yên tâm trong công tác giáo dục của CB giáo viên và học tập của học sinh trong trường. Nhờ có chính sách của Đảng và nhà nước, sự cố gắng vươn lên, đạp lên mọi khó khăn của đội ngũ CBLĐ và CBGV trong trường, sự ủng hộ của các ngành trong huyện, của địa phương nơi trường đóng. Nhà trường luôn giữ vững được vị trí của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị Đảng, nhà nước giao cho, thực hiện tốt đường lối giáo dục của Đảng – học đi đôi với hành, giáo dục gắn với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội, tích cực tuyên truyền chủ trương “xã hội hóa giáo dục “ của Đảng. Vì thế trong 13 năm qua trường đã đạt được những thành tích rất đáng tự hào. Đó là:

            * Khen về các mặt hoạt động :

            – Huyện khen về thành tích trồng cây trong 2 năm (84-85)

            – Xếp loại khá về hội khỏe phù đổng (84-85 )

            – Giải nhất khối điền kinh nam khối THPT ( 90-91 )

            * Công đoàn: nhiều năm được xếp đơn vị khá, đơn vị vững mạnh

            * Đoàn TN:

                                    Tặng cờ đơn vị khá (83-84), (85-86)

                                    Tặng cờ đơn vị xuất sắc (84-85), (87-88)

                                    Bằng khen của TW (86-87), (89-90)

            * Danh hiệu nhà trường :

             GĐ Sở GD khen: Thành tích nâng cao chất lượng GD toàn diện (97-88)

            Thực hiện tốt nhiệm vụ năm học (88-89)

            Trường tiên tiến cấp huyện nhiều năm, từ 89-90 đến 91-92.

            Hoạt động của nhà trường trong suốt 13 năm trên đất Yên Phong trải qua bao bước thăng trầm, bao kỷ nịêm vui buồn và những thành tích mà chúng ta đã đạt được tuy chưa nhiều, chưa cao lắm, song đã để lại và in đậm trong ký ức của mỗi Thầy, trò trường ta “ Một thời để nhớ”.

  1. HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRƯỜNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI, CNH- HĐH ĐẤT NƯỚC

(1994-1995) đến (2012-2013 )

 1/ Chuyển trường và những thách thức mới :

            Năm 1994, lần thứ 4 trường THPT Yên Định 2 lại chuyển địa điểm. Sau 13 năm đóng tại Yên Phong. Sự bất cập về nhiều mặt về qui mô đào tạo về địa điểm, cơ sở vật chất, môi trường giáo dục, tranh thủ được sự lãnh đạo của UBND huyện để trường rời về địa điểm mới- Phố Kiểu, xã Yên Trường- trung tâm của các xã vùng Yên.

            Chấp nhận khó khăn ban đầu, được sự thống nhất cao trong chi bộ, sự ủng hộ nhiệt tình của thầy cô giáo, và đặc biệt là sự quan tâm của UBND huyện, UBND xã Yên Trường, tiếng trống khai giảng năm học 1994-1995 đã vang lên. Tuy còn khó khăn, thiếu thốn, học 2 ca, trường lớp chật chội, nhưng phong trào học tập, rèn luyện dưỡng tu dưỡng có nhiều khởi sắc. Kết quả thi tốt nghiệp và đậu đại học tăng lên rõ rệt. Niềm tin trong nhân dân và học sinh được củng cố. Một sinh khí mới về phong trào thi đua dạy tốt, học tốt lại trỗi dậy. Cùng với sự đổi mới của đất nước, dưới ánh sáng của NQTW-K7, K8 về GD-ĐT, trường THPT Yên Định 2 có nhiều thay đổi đáng ghi nhận. Với tập thể LĐ đoàn kết, sáng tạo, chi bộ vững mạnh, tập thể giáo viên đoàn kết nên những chủ trương, NQ đã sớm đi vào cuộc sống. Với tầm nhìn: trường THPT Yên Định 2 phải là trung tâm đào tạo lao động giỏi cho địa phương, sự tồn tại và thương hiệu của trường phụ thuộc vào chất lượng, kết quả dạy và học. Suy nghĩ đó đã chi phối mọi hoạt động trong nhà trường. Những giải pháp thiết thực, phù hợp được đưa vào NQ của Đại hội; trò phấn khởi học tập, thầy hăng say nhiệt tình giảng dạy- một không khí sôi nổi thi đua dạy tốt, học tốt lan tỏa khắp toàn trường. Có thể nói đây là mốc quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo toàn diện.

2/ Vượt khó khăn vươn lên tự khẳng định:

            Ngay từ năm học đầu tiên 1994-1995, khó khăn thiếu thốn sau di chuyển chồng chất, nhưng năm học đã kết thúc với những kết quả rất đáng tự hào. Với 16 lớp, 748 học sinh, đã có 158 học sinh đỗ tốt nghiệp, trong đó có 30 em đậu vào đại học, 3 em đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh, nhà trường vinh dự nhận giấy khen của GĐ Sở, bằng khen của Hội chữ thập đỏ, Đoàn trường nhận bằng khen của TW Đoàn. Thành tích bước đầu tuy chưa cao, nhưng đáng ghi nhận, vì trong khó khăn thiếu thốn, tập thể thầy trò nhà trường đã biết vượt lên chính mình và đã khẳng định được mình.

            Phát huy kết quả đă đạt được thầy trò hăng hái tham gia kiến tạo, sửa chữa trường lớp trong hè, chuẩn bị tích cực đón năm học mới thứ 2. Năm học 95-96 khai giảng với nhiều khởi sắc. Trường lớp từng bước được tu sửa, hoạt động chuyên môn đã được đặc biệt coi trọng và đi vào nề nếp. Thành tích nối tiếp thành tích, mùa gặt hái bội thu lại đến với thầy trò Trường THPT Yên Định 2. Năm học 95-96 có nhiều học sinh thi đỗ vào ĐH- CĐ với gần 100 em, các năm tiếp sau, nhất là các năm gần đây hàng năm có 130, 150, 200, 250, 300, 320 học sinh đậu ĐH-CĐ.

            Cùng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa không ngừng được tăng trưởng, chính sách xã hội hóa giáo dục của Đảng đã được thấm nhuần sâu sắc tới các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân. Giáo dục huyện nhà cũng bắt nhịp cùng sự phát triển đó. Từ 18 lớp với 459 học sinh năm học 96-97 đã tăng lên tới 1150 em với 22 lớp, …rồi 2002 em với 39 lớp (2002-2003). Con số trên cho thấy xã hội đã chú trọng đến sự nghiệp giáo dục, tính chất xã hội hóa giáo dục ngày một rõ nét. Xuất phát từ nhu cầu phát triển về qui mô chất lượng giáo dục, năm 1998 trên địa điểm trường đã mọc lên 12 phòng học 2 tầng khang trang. Bộ mặt nhà trường đã có sự thay đổi thực sự, trường ra trường, lớp ra lớp đã tạo điều kiện cho phong trào thi đua dạy tốt học tốt. Năm 2001, 4 phòng học cấp 4 đúng qui cách ra đời và năm 2007 có thêm 12 phòng học 2 tầng nữa, năm 2008 xây dựng thêm 3 phòng bộ môn, trị giá 300 triệu đồng, 02 phòng vi tính với gần 50 máy phục vụ cho công tác dạy-học, nâng cao chất lượng GD toàn diện. Từ đó đến nay học sinh được học ở các phòng học đủ tiêu chuẩn, có đầy đủ ánh sáng điện, có quạt mát, bàn ghế được đóng mới và được bảo quản tốt hơn. Có được những thuận lợi trên, trước hết là sự quan tâm của chính quyền các cấp, sự đóng góp của nhân dân, sự gìn giữ và bảo quản chu đáo của thầy và trò trong trường. Thêm vào đó, một nhà hiệu bộ 2 tầng đầy đủ các phòng làm việc cho các ban ngành, phòng chờ và một hội trường lớn dành cho hội họp được xây dựng với nguồn kinh phí do huyện cấp.

            Có thể nói chỉ trong một thời gian ngắn, sự năng động của BGH, tập thể chi bộ, và sự quan tâm đặc biệt của huyện, trường THPT Yên Định 2 đã có một cơ ngơi tương đối tốt; phòng học khang trang, đường, sân chơi sạch sẽ, khuôn viên nhà trường đẹp có bồn hoa, cây xanh, ghế đá. Một không gian yên ả đã thay thế cho ngôi trường tạm bợ cách đây 17 năm. Sự thay đổi đó đã tạo nên một môi trường giáo dục mới, thân thiện hơn và sự thay đổi về chất lượng giảng dạy và học tập là một tất yếu. Phong trào thi đua dạy tốt học tốt không ngừng được phát động trong mỗi năm học. Cơ sở vật chất tạm ổn, việc còn lại chỉ là dạy – học và tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục. Có thể nói rằng trong vòng 17 năm qua, Trường THPT Yên Định 2 đã có sự vươn lên mạnh mẽ, phát triển cả về chất lượng và số lượng. Từ chỗ 16 lớp ( năm 1994 ) đã lên tới 22 lớp (năm 96-97 ), 32 lớp (98-99 ), 39 lớp ( 2002-2003). Để đáp ứng nhu cầu đó loại hình lớp bán công trong trường công đã ra đời. Cùng với sự tăng nhanh về đầu lớp, số lượng học sinh, số lượng thầy cô giáo không ngừng được bổ sung về trường. Tuy nhiên có nhiều năm một số môn vẫn không đáp ứng được nhu cầu trên, nên ngày công lao động của thầy cô giáo đều vượt xa mức qui định, nhiều thầy cô giáo phải dạy 2 buổi, số giờ dạy trên lớp có thể lên tới 32 giờ/tuần nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng giờ lên lớp. Mặt khác do dạy và học cả ngày, nhiều sinh hoạt phải tiến hành vào chủ nhật, ngày nghỉ. Tuy vậy các chỉ tiêu của các năm học đề ra vẫn hoàn thành suất sắc. Học sinh ham học ngày càng đông, nhiều em vươn lên rõ rệt để tự khẳng định mình bằng kết quả học tập, rèn luyện, tu dưỡng làm rạng danh truyền thống nhà trường. Mỗi năm học đi qua, niềm tin trong học sinh, phụ huynh lại được củng cố, đội ngũ thầy cô giáo không ngừng nâng cao tay nghề, rèn luyện phẩm chất đạo đức, vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ có đủ khả năng dạy được cả 4 khối cho học sinh có nguyện vọng thi vào đại học. Do vậy kết quả thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi và thi vào các trường ĐH-CĐ ngày càng cao. Nếu năm học 94-95 với 2 giải cấp tỉnh, rồi 7 giải năm 1995-1996 thì năm học 1999-2000 số học sinh đạt giải cấp tỉnh đã lên tới 31 giải và 41, 45, 52 giải ở năm học 2001-2002; 2002-2003; 2003- 2004, …, và 62 giải năm học 2008-2009; 83 giải năm học 2009-2010, 81 giải năm 2010-2011. Tỷ lệ học sinh thi đậu vào các trường ĐH, CĐ ngày càng cao, có năm tới 150 em, 200 em (2008-2009), 250 (2009-2010), 300 em (2010-2011), 320 em (2011-2012); nhiều học sinh đã trưởng thành từ đây và đã trở lại công tác tại trường. Điều đó khẳng định một sự thật là trường THPT Yên Định 2 đã bắt nhịp cùng sự tăng trưởng của nền kinh tế, đã thực sự chuyển mình cùng với sự thay đổi của đất nước. Liên tục các năm học (1997-1998; 1998-1999; 1999-2000) trường đạt danh hiệu tiên tiến cấp huyện, từ năm học 2000-2001 đến 2006-2007 trường vinh dự liên tục được nhận danh hiệu trường tiên tiến cấp tỉnh; năm học 2007-2008, 2008-2009 được tặng bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh; 2009-2010 bằng khen của Bộ GD&ĐT; 2010–2011 Bằng khen của Thủ tướng C. Phủ, Năm 2011-2012: Huân chương LĐ hạng 3.

            Không thỏa mãn với những kết quả đạt được, tập thể lãnh đạo nhà trường luôn luôn trăn trở làm thế nào để học sinh ngày càng chăm ngoan, đạo đức ngày càng tốt. Cùng với sự tận tâm của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, BGH nhà trường thường xuyên bám trường, đặc biệt để đảm bảo được nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài nhà trường đã tạo điều kiện, động viên các thầy cô giáo đi học để nâng cao trình độ. Trong tổng số 59 thầy cô giáo hiện nay, đạt trình độ đại học (đạt chuẩn 100%), có 7 giáo viên có trình độ trên chuẩn, các đồng chí CBQL đã hoàn thành lớp lý luận chính trị do tỉnh tổ chức, nhiều thầy cô giáo đã tốt nghiệp lớp quản lý giáo dục. Về thời gian, nhà trường đã tạo điều kiện, sắp những xếp dạy thay và hỗ trợ một phần kinh phí đi học, động viên khuyến khích phong trào tự học, tự bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và nhà nước theo tinh thần NQ IX, X, XI của TW Đảng.

            Trong thành tích kể trên, có sự đóng góp của các tổ chức trong trường. Liên tục nhận được bằng khen, cờ thi đua do Tỉnh Đoàn, TW Đoàn tặng- Đoàn trường THPT Yên Định 2 thực sự là Đoàn trường vững mạnh toàn diện, phát huy thế mạnh sẵn có trong công tác, bám chắc mục tiêu đề ra, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức khác, chỉ đạo của chi bộ, BGH nhà trường, đoàn trường thực sự là cánh tay đắc lực của Đảng, là tổ chức quan trọng trong trường. Thông qua các hội thi: Đảng với thanh niên, thanh niên với Đảng, học sinh thanh lịch, cán bộ đoàn giỏi, bạn gái khéo tay, thi “Rung chuông vàng”, “Âm vang xứ Thanh”, …… hội thi đã thu hút đông đảo đoàn viên thanh niên tham gia. Qua các sân chơi bổ ích đó, đoàn trường đã làm tốt được nhiệm vụ chính trị được giao là giáo dục lý tưởng, hướng nghiệp cho đoàn viên, thanh niên. Bên cạnh đó, bằng những việc làm thiết thực, đoàn viên thanh niên đã thực hiện chương trình thanh niên “ vì ngày mai lập nghiệp “, xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” như trồng cây xanh, mua sắm ghế đá, bồn hoa, trang trí phòng học, thực sự có hiệu quả.

            Đóng góp một phần quan trọng trong thành tích chung của nhà trường, phải kể đến sự đóng góp xứng đáng của tổ chức công đoàn nhà trường. Với bề dày thành tích, công đoàn trường trong những năm qua liên tục đạt danh hiệu công đoàn vững mạnh toàn diện, tổ chức công đoàn thực sự là tổ ấm, là người bạn gần gũi của CBVC, đã động viên tốt phong trào thi đua dạy tốt, học tốt trong trường, chế độ chính sách của các công đoàn viên được đảm bảo, tổ chức tốt phong trào xây dựng “Gia đình nhà giáo văn hóa”, cuộc vận động “Dân chủ, kỷ cương tình thương, trách nhiệm”, “Mỗi Thầy, Cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Công đoàn trường THPT Yên Định 2 thực sự là chỗ dựa tin cậy, chắp cánh cho những ý tưởng tốt đẹp thành sự thật.

            Trong 17 năm phấn đấu và trưởng thành, tập thể sư phạm trong Trường THPT Yên Định 2 là một khối đoàn kết thống nhất, trong đó Chi bộ nhà trường là hạt nhân. Bám sát nhiệm vụ, mục tiêu từng năm học, chi bộ Đảng luôn đề ra các chủ trương giải pháp sát thực. Tập thể chi ủy đoàn kết, biết nhìn xa trông rộng, đảng viên năng động, sáng tạo, gương mẫu nên các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghị quyết chi bộ đều được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả. Chi bộ Đảng liên tục được công nhận là chi bộ trong sạch vững mạnh, được tặng giấy khen, bằng khen nhiều năm liền.

3/ Tự hào, tin tưởng, vững bước đi lên.

            Mười bảy năm đã khép lại một chặng đường lịch sử của trường đóng trên đất Yên trường. Năm học 2012-2013 mở sang trang mới, tất cả những gì trường đang có thật đáng tự hào, bởi trong khó khăn, biết bao sự biến động của xã hội, trường đã đứng vững và trưởng thành. Tập thể cán bộ viên chức nhà trường luôn đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Sở giáo dục đào tạo, luôn được sự ủng hộ của các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương. Dưới ánh sáng NQIX, NQX, NQXI của Đảng “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, đổi mới căn bản và toàn diện nền GD nước nhà. Trường THPT Yên Định 2 tiếp tục vững bước đi lên hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử mà Đảng và nhân dân giao phó.

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *